.
Khánh thành đền Chợ Giá (Thủy Nguyên):

Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố

Thứ Sáu, 02/12/2016, 08:58 [GMT+7]
.

 

Đền Chợ Giá
Đền Chợ Giá bên dòng sông thơ mộng

Trải qua hơn 900 năm với bao thời gian mưa nắng xói mòn, chiến tranh giặc dã cùng thăng trầm lịch sử của đất nước đã làm cho ngôi đền chỉ còn phế tích. Từ năm 2001, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Kênh Giang cùng tín khách thập phương đã tổ chức tôn tạo, xây dựng lại quy mô ngôi đền tương xứng với giá trị tâm linh, giá trị lịch sử - văn hóa quý giá. Đặc biệt, sau lần trùng tu thứ 3 từ năm 2015 đến nay, những nét kiến trúc cũ được phục dựng, những công trình mới xây dựng hài hòa với cảnh quan thiên nhiên phong thủy hữu tình hiếm có, ngôi đền linh thiêng đã thực sự trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của các tầng lớp nhân dân.

Giá trị lịch sử

Tọa lạc bên dòng sông Giá thơ mộng, đền Chợ Giá (tức Huệ Đức trinh linh từ) là nơi tôn thờ thánh nữ Phổ Thị Huyền, người có công âm phù giúp vua Lý đánh giặc Nguyễn Ngao. Theo thần tích, thánh nữ là người con gái nhiều lần hiển linh giúp dân cứu nước, diệt tai trừ họa.

Thần phả của làng lược ghi: Vào năm Nhâm Ngọ Phù Long thứ 2 (năm 1102), đời vua Lý Nhân Tông, hơn 30 vạn giặc Tống xâm lược nước ta, chúng đóng quân ở Bạch Đằng giang và An Lâm thị. Trước thế giặc mạnh, nhà vua thân chinh cầm quân đánh giặc, đại quân đóng ở Mỹ Cụ trang. Vua cùng cánh tiền quân đi thị sát tình hình, đến trang Mỹ Giang, thuộc huyện Thủy Đường (tức làng Mỹ Giang, xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên ngày nay) thì tạm nghỉ ở chùa cạnh chợ Giang Tân (tức chợ Giá ngày nay). Nửa đêm, nhà vua nằm mơ thấy một người con gái trẻ kiều diễm đến bên tâu rằng: “Thiếp là con gái họ Phổ ở trang này, do phận mỏng bị mất sớm, không thể trực tiếp theo giúp đánh giặc cứu nước, cứu dân. Thiếp có hai người em trai văn võ toàn tài, có thể giúp vua dẹp tan giặc dữ và thiếp xin được âm phù trợ lực cho đại vương”.

Tỉnh dậy, nhà vua liền sai triệu tập các bô lão và dân chúng quanh vùng An Lâm thị hỏi về gia đình họ Phổ và tìm gặp anh em Phổ Hóa, Phổ Hộ. Đây là hai anh em sinh đôi, bố là Phổ Danh Nguyên, mẹ là Hoàng Thị Bích, có một chị gái là Phổ Thị Huyền đã mất từ năm 16 tuổi. Hỏi về kế sách đánh giặc, cả hai trả lời rất lưu loát và nguyện xin được tòng quân giúp nước. Sau khi tiếp xúc, ngài vui mừng giao cho 2 ông cầm quân bộ tả hữu tiên phong cùng cánh quân thủy của tướng Đoàn Thượng tiến quân đánh giặc. Giáp binh một trận, quân ta đại thắng, tướng giặc Nguyễn Ngao bị bắt sống.

Thắng trận, vua mở tiệc khao quân cùng dân làng. Trong bữa tiệc, vua ngẫu hứng đọc bài thơ: “Nhất triều tụ hội hoán tinh thần/ Trẫm thị Nương quân ngộ nghĩa thần/ Trinh nữ nhất tiêu hồn mộng báo/ Mỹ Giang hương hỏa ức niên xuân”. Bài thơ này sau được tạc vào bia đá, để ở đền thờ Phổ Gia tại đầu chợ Giá. Giấc mộng đã linh ứng, vua ban trăm quan tiền để xây đền thờ bà Phổ Thị Huyền và truyền cho người dân trong vùng đời đời hương hỏa.

Là di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố, đền Chợ Giá nằm trong quần thể cụm di tích chợ Giá - Mỹ Giang, thuộc xã Kênh Giang, được mệnh danh là ngôi đền thiêng và đẹp có một không hai ở huyện Thủy Nguyên. Sau trùng tu lần thứ ba, đến ngày 2-12 (tức ngày 4-11 âm lịch), ngôi đền được khánh thành quy mô, tương xứng với những giá trị tâm linh và giá trị lịch sử - văn hóa quý giá...

Ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3, vua truy phong là Bản Cảnh Thành Hoàng - Huệ Đức Trinh Linh, Phổ Thị Huyền càn quý Lương Phạm đình quân công chúa. Đến năm Khải Định thứ 9, bà lại được vua Khải Định xác nhận và truy phong lần nữa.

Ba năm sau (năm 1105), hai ông Phổ Hóa và Phổ Hộ được phong là Hộ công vi Tả bật nguyên soái, Hữu Bật nguyên soái đại tướng quân và được vua cho xây đền thờ (nay là đền Mỹ Giang, xã Kênh Giang). Theo ngọc phả, đền được xây dựng ngay trên ngôi đất có thế “chân long”, nơi đức thánh Phổ Hóa và Phổ Hộ quy tiên, tức đền được xây dựng trên mộ phần của các vị Phổ Hóa và Phổ Hộ.

Di tích văn hóa

Ngồi ở lầu vọng Cảnh trong khuôn viên đền, bên ấm trà nóng, vẳng nghe tiếng cá quẫy nước dưới sông, xa xa từng làn sương khói mờ ảo. Sử sách còn ghi, khi xưa, chính Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đi ngang qua nơi này đã phải thốt lên rằng: “Đàn cò trắng đậu trong mơ/ Xa xa dãy núi nhấp nhô trập trùng/ Cửa đền soi bóng con sông/ Dòng sông mang nặng ánh hồng phù sa”.

Nhẹ lật từng trang sử liệu, ông Đồng Xuân Quý - Trưởng ban quản lý di tích đền Chợ Giá không giấu được tự hào khi ngôi đền vẫn lưu giữ nhiều giá trị lịch sử vô giá, trong đó đặc biệt phải kể đến 7 sắc phong (từ năm Nhâm Ngọ Phù Long thứ 2 đến năm thứ 9 Khải Định). Còn đền Mỹ Giang chạy dài, nằm tựa lưng vào núi, “long phục, hổ chầu”, chứa nhiều yếu tố tâm linh. Gian chính của đền thờ hai ông Phổ Hộ và Phổ Hóa.

Ông Quý cho hay, tương truyền không chỉ là nơi tôn thờ thánh nữ một lòng “âm phù yêu nước”, đền Chợ Giá còn là nơi “đất lành chim đậu”. Đó là hai câu đối khắc ghi ngay cổng vào: “Tiêu thánh khuông phù dân sở tại/ Nữ thần tế độ khách vãng lai”. Hàm ý, làng Mỹ Giang là đất lành của cả người dân bản địa và những người ở nơi xa đến đây sinh sống, làm ăn. Từ đó đến nay, ngoài việc bảo tồn tín ngưỡng tâm linh của dân làng, đền Chợ Giá cùng đền Mỹ Giang không chỉ thờ vị thành hoàng là nhân thần mà còn là nơi ghi nhớ và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống từ ngàn xưa, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, đạo lý của dân tộc Việt.

Lại nói về vùng đất Kênh Giang là 1 trong 37 xã và thị trấn của huyện Thuỷ Nguyên. Người xưa khi chọn thế đất sinh cơ lập nghiệp thường coi trọng: “Nhất cận thị, nhị cận giang”. Ngay từ buổi sơ khai, các trang Mỹ Giang, Trại Kênh và Trà Sơn đã có vị thế “sơn thuỷ sùng diện”, núi không cao mà có phù sa bồi đắp. Bởi sông Giá - một phần hạ lưu của dòng sông Bạch Đằng đã đi vào huyền thoại với những chiến thắng lẫy lừng năm xưa của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán (năm 938), Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên (năm 1288) vốn mang vẻ đẹp “tiện nghi tương thắng, cảnh vật phong quang”.

...
Nhân dân địa phương và khách du lịch thăm viếng

Điều rất độc đáo là vị trí đền Chợ Giá lại sát cạnh chợ Giá, hội tụ đủ 4 yếu tố linh thiêng: “Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ, tứ cận sơn” (gần chợ đông, sông rộng, đường lớn và núi cao). Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép: Ở Thủy Đường (tức Thủy Nguyên ngày nay), chợ Mỹ Giang (tên nôm là chợ Giá) của huyện là một chợ lớn, dân gian còn lưu truyền câu ca dao: “Nhất cao là núi U Bò/ Nhất đông chợ Giá, nhất to sông Rừng”. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, cách đây gần 1.000 năm, với vị trí địa lý thuận lợi, vùng đất Thủy Đường, trong đó có chợ Giá vốn là một trong những trung tâm buôn bán sầm uất của nước ta.

Xưa, nơi đây luôn cảnh nhộn nhịp trên bến dưới thuyền. Người từ Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Bắc, kẻ từ Vân Đồn, Trà Cổ, Đông Triều... đò thuyền ngược xuôi tụ về giao thương. Có đủ sản vật được trao đổi, mua bán từ trâu, bò đến tre, lứa gỗ, thóc gạo. Nay, chợ không đông như trước nhưng vẫn họp theo phiên (vào các ngày 1, 6, 11, 16, 21, 26 âm lịch trong tháng) với nét đặc trưng của chợ quê được gìn giữ, trân trọng. Bên cạnh đó, chợ cũng không ngừng phục dựng lại cảnh quan để hợp thành một quần thể di tích đa dạng và thống nhất.

5 cây di sản quý giá

Thêm một thú vị về đền Chợ Giá mà mỗi du khách khi đến thăm viếng đều dễ nhận thấy là nơi đây quanh năm rợp bóng mát của 5 cây cổ thụ. Đó là 3 cây bồ đề, 1 cây đa và 1 cây thị, có độ tuổi từ 200 đến hơn 300 năm, được Hội bảo vệ môi trường Hải Phòng công nhận là “cây di sản Việt Nam”.

Dạo bước dưới tán cây cổ thụ, thoảng nghe tiếng chim hót líu lo, thả lòng trong bầu không khí trang nghiêm, tĩnh mịch là trải nghiệm không dễ gì có được. Theo các bậc cao niên trong làng, không biết cây có tự bao giờ, chỉ nhớ khi sinh ra đã thấy bóng cây to rộng. Và chẳng biết “vô tình hay hữu ý” nhưng 5 cây cổ thụ được “trấn”, phân bố đều các hướng theo thế “ngũ hành tương sinh”, trong đó 2 cây nằm ngay trong khuôn viên của đền (1 cây bồ đề, 1 cây thị).

Chỉ biết trong các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc, 5 cây cổ thụ vẫn hiên ngang trước mưa bom bão đạn của kẻ thù, che chở các tổ chức cách mạng và xóm làng. Đến nay các cây trên vẫn cường tráng và đầy sức sống như linh khí đất trời tụ lại, càng tạo thêm vẻ linh thiêng của ngôi đền. Ngoài giá trị về cảnh quan văn hóa thì về mặt sinh học, cây còn là nguồn gen quý giá cần được bảo tồn, chăm sóc.

ĐỖ HIẾU

;
.
.
Bình luận
.
.
.
.
.