.

Những mỹ nhân nổi tiếng trên lộ Hải Đông xưa

Thứ Bảy, 10/12/2016, 01:47 [GMT+7]
.

 

Phục hồi không gian hát cửa đình người Việt tại đình Hàng Kênh
Phục hồi không gian hát cửa đình người Việt tại đình Hàng Kênh

Lộ Hải Đông xưa, thành phố Hải Phòng nay nổi tiếng là vùng địa linh sản sinh nhiều mỹ nhân anh thư, kiệt hiệt. Chẳng thế mà dân gian còn mãi lưu truyền câu ca "Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa". Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng ta hiện nay thì trên địa bàn lộ Hải Đông xưa có Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thời Mạc, phi tần của vua Lê là Dương Thị Bí và 2 cung tần của Chúa Trịnh la Phạm Thị Doãn (Diễm) và Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh. Số phận của "Tứ đại mỹ nhân" này rất khác nhau...

Tiếng vọng từ ngàn xưa

    Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: Năm 1440, bà Dương Thị Bí sinh được con trai là Lê Nghi Dân. Năm sau, Nghi Dân được vua (Lê Thái Tông) yêu, phong cho làm Hoàng thái tử. Từ đó bà Dương cậy mình, tỏ vẻ kiêu căng. Vua nín nhịn mới giáng xuống là Chiêu Nghi cho sửa lỗi nhưng Dương Thị Bí lòng càng tức giận, không kiêng nể gì cả. Vua cho là người mẹ mà như thế thì con sau này khó trở thành đấng minh quân bèn giáng bà xuống làm thường dân, đồng thời xuống chiếu báo cho thiên hạ biết là ngôi thái tử chưa định.

Sau đó, vua Thái Tông phong cho Bang Cơ (con Nguyễn Thị Anh) làm Hoàng thái tử, còn ban cho Nghi Dân tước Lạng Sơn Vương. Năm Diên Ninh thứ 6 (1459), Lạng Sơn Vương Nghi Dân đang đêm bắc thang chia làm 3 đường leo vào thành cửa Đông, lẻn vào cung cấm, vua Thái Tông và Tuyên Từ Hoàng thái hậu bị giết. Nghi Dân tiếm ngôi, sau 8 tháng tin dùng bọn gian nịnh, giết hại bề tôi cũ, pháp tông đổi thay hết thảy, người oán trời giận, bị các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt cùng nhau đem quân làm binh biến, phế Nghi Dân, đón Hoàng tử Tư Thành lên ngôi - tức vua Lê Thánh Tông.

    Sự kiện này cũng đã được Phan Huy Chú chép sách "Lịch triều hiến chương loại chí": "Vua Nhân Tông hoàng đế tên là Bang Cơ, con thứ ba của Lê Thái Tông, khi lên ngôi mới 2 tuổi. Thái hậu buông rèm nhiếp chính, khi đã lớn vua thân coi việc triều chính, chuộng nho học, nghe lời can, thương người làm ruộng, yêu dân. Vua ở ngôi 17 năm bị Lạng Sơn Vương là Nghi Dân giết chết năm 1459"...

     Tổng hợp tài liệu điều tra điền dã, chính sử và thư tịch cổ cũng như kết quả khai quật khảo cổ học, giới nghiên cứu thống nhất cho rằng: Từ sự kiện phế lập ngôi thứ ở triều Lê Sơ (1440-1459) đã dẫn đến cuộc biến loạn Nghi Dân, sau khi bị phế truất, ông xin về quê mẹ để gửi xác. Như vậy, ngôi mộ "ông Hoàng" mà trước đây họ Dương ở Mai Sơn đã di chuyển được xác định là của Lạng Sơn Vương Nghi Dân thì ngôi mộ hợp chất do giơi khảo cổ, bảo tồn bảo tàng nghiên cứu khai quật là sinh phần của nguyên phi Dương Thị Bí hoàn toàn có cơ sở.

Truyền ngôn trong Dương tộc nhắc đến việc bà Dương Thị Bí là nguyên phi của vua Lê Thái Tông, mẹ của vua Nghi Dân, do mắc lỗi với vua Thái Tông nên bị giáng làm thứ dân, khi chết được chôn cất chu đáo tại quê nhà.

Tấm lòng thơm thảo lưu mãi trăm năm

    Sách "Đại Nam nhất thống chí" cho biết: Núi Chu Cốc (còn gọi là núi Hang Son) ở "cách huyện Thuỷ Đường 13 dặm", "có sông chảy về phía đông bắc qua đây đổ vào Quảng Yên, tức là một dòng của sông Bạch Đằng". Hang Chu Cốc có đất đỏ như son (nên gọi là núi Son), xưa có lệ cúng tiến. Sau có bà Nguyễn Thái Phi (mẹ nuôi vua Lê Uy Mục), người Hoa Lăng (Thuỷ Đường), sợ dân địa phương vất vả nên đã sai lấp hang.

Phục hồi không gian hát cửa đình người Việt tại đình Hàng Kênh
Phục hồi không gian hát cửa đình người Việt tại đình Hàng Kênh

    Theo nội dung minh văn các tấm bia: "Cối Sơn tự bi", "Hội chủ hưng công Cối Sơn tự tạo bi ký", "Vĩnh Đình am bi ký"... ở làng Thiên Lộc (tên nôm là làng Vàng), nay thuộc xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ, cho biết: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh (người làng Thiên Lộc) được tuyển vào cung của Bình An Vương Trịnh Tùng. Bà đã giúp dân làng dựng đình Vàng, chùa Cối Sơn (thường gọi là chùa Đoài), chùa Vĩnh Đình (thường gọi là chùa Đông) và miếu Thiên Lộc. Ngạn ngữ vùng này có câu: "Xứ Bắc đình Rồng, xứ Đông đình Vàng" hay "To đình Vàng, sang đình Tiểu" (đình Rồng tức là đình Long Khám nổi tiếng ở vùng Kinh Bắc, đình Tiểu tức là đình làng Tiểu Trà cùng huyện Kiến Thuỵ).

Dân làng Vàng (Thiên Lộc) còn lưu truyền nhiều giai thoại về việc bà chúa giúp dân làm đình. Trong đó đáng chú ý là câu chuyện hàng năm vào vụ làm mắm tôm, bà bảo dân làng chở hàng chục chum mắm lên kinh đô Thăng Long dâng vào phủ chúa. Rồi chọn lúc trời nắng gắt, bà tự tay quấy đảo làm mắm dậy mùi nồng nặc, nhân lúc mọi người trong cung lẳng lặng tránh ra xa, bà bí mật thả những thỏi vàng giấu trong tay vào các chum mắm. Sau đó bà sai gia nhân trả lại toán dân phu những chum mắm không đạt chất lượng cùng vàng về quê cho dân làng làm đình...

Phục hồi không gian hát cửa đình người Việt tại đình Hàng Kênh
Phục hồi không gian hát cửa đình người Việt tại đình Hàng Kênh

   Bia "Hội chủ hưng công Cối Sơn tự tạo bi ký" dựng tháng giêng năm Canh Thìn niên hiệu Chính Hoà ghi việc bà Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh, tên hiệu Chân Viên Quang, vương phủ nội quý tân phi lâu năm tích luỹ công đức, đứng làm hội chủ khuyến hoá tài lực từ vương phi công tử, quý tộc hoa tôn, thái công, lão bà thành tâm đóng góp...

Bà đã cúng 110 lạng bạc, 1.500 quan tiền, 34.000 thăng gạo, 50 quan để tạo bia, 100 quan tiền để chi công thợ, mua sắm lặt vặt, lại mua 7 sào ruộng làm ruộng Tam Bảo. Tấm bia "Vĩnh Đình am bi ký" dựng năm Hoằng Định 10 (1610), ghi việc cung tần vương phủ là Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh cùng thân mẫu là Phạm Thị Suối và con trai là Phó tướng Thọ Nham hầu Trịnh Đình góp công của xây chùa Vĩnh Đình. Ngay 17 tháng giêng năm Hoằng Định, bà chúa lại dựng thêm một am nhỏ 6 gian 2 trái ở sau chùa để mẹ ở dưỡng già...

    Bia "Tu tạo Ngọc Hoa tự bi" dựng năm Phúc Thái 2 (1644) tại chùa Gia (tên chữ là Ngọc Hoa tự) thuộc xã Thuỷ Đường, huyện Thủy Nguyên, cho biết: Bà Phạm Thị Doãn (Diễm), người làng Thuỷ Đường được tuyển làm cung tân trong phủ chúa Trịnh. Tiếc rằng nội dung văn bia cũng như truyền ngôn của địa phương không cho biết gì nhiều về thân thế sự nghiệp của bà. Theo văn bia thì bà người đứng ra là hội chủ hưng công trùng tu, tôn tạo chùa Gia (Ngọc Hoa tự) của làng…

  Nguồn sử liệu chính thống không ghi chép gì nhiều về tiểu sử, thân thế của Hoàng hậu Vũ thị Ngọc Toàn (thời Mạc), nhưng tư liệu điền dã và nhất là tài liệu văn bia thời Mạc nói đến sự nghiệp bảo tồn văn hóa dân tộc của bà khá nhiều. Cả hai nguồn sử liệu này đều ca tụng Hoàng hậu - Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn "là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn (nhà Hạ)" (Văn bia ghi việc trung tu chùa Bảo Lâm, xã Trâu Bộ, huyện Giáp Sơn).

Về nguồn gốc xuất thân của Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, chưa rõ dựa vào nguồn sử liệu nào, nhưng các tác giả sách "Hợp biên thế phả họ Mạc" của Ban liên lạc họ Mạc Việt Nam (NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1998) và "Con gái, con dâu họ Vũ (Võ) Việt Nam xưa nay" (nhiều tác giả), do NXB Phụ nữ ấn hành năm 2008, đưa ra giả thuyết: Bà là em gái của Thái bảo Tĩnh quốc công Vũ Hộ. Theo đó, Vũ Hộ xuất thân trong một gia đình vọng tộc ở xã Cung Hiệp, nay là thôn Thù Du, xã Minh Tân, huyện Kiến Thuỵ.

Ông đỗ Tạo sĩ, tức tiến sĩ võ đời vua Lê Uy Mục, làm quan Hiệu uý, quản quân Túc vệ, bảo vệ kinh thành. Do lập được nhiều công nên đến đời vua Lê Chiêu Tông, Vũ Hộ trải thăng tới chức Đô đốc chỉ huy vệ Thiên võ, lại được ban mỹ hiệu Đồng đức công thần, rồi ra giữ chức trấn thủ xứ Sơn Tây. Năm 1522, vua Lê Chiêu Tông nghe lời dèm pha trốn khỏi kinh thành, ban lệnh hô hào quân dân các trấn giúp vua tiêu diệt phái Mạc Đăng Dung, một võ quan cao cấp có công lớn với triều Lê.

Lúc đó, Vũ Hộ đem 3.000 quân bản bộ và huy động hương binh theo giúp Mạc Đăng Dung. Sau khi Mạc Đăng Dung lên ngôi vua (1527), Vũ Hộ được phong tước Thái bảo Tĩnh quốc công và được ban quốc tính là Mạc Bang Hộ. Để kết thân gia, vây cánh, Vũ Hộ đem em gái là Vũ Thị Ngọc Toàn gả cho Mạc Đăng Dung và tìm mọi cách cho con trai là Vũ Huấn kết hôn em gái út của Mạc Thái Tổ là công chúa Mạc Thị Ngọc Di...

     Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn đã giúp vua Mạc Đăng Dung cai quản nghiêm nội cung, được đương thời ca ngợi là bậc Thánh Mẫu, đức thánh thiện sánh cùng mẹ vua nhà Hạ thời Tam Hoàng của Trung Quốc thời cổ đại. Các vua kế tiếp của nhà Mạc tôn bà Thái hoàng Thái hậu với nhiều mỹ tự cao quý. Bà chăm cúng tiến Tam bảo, nơi ít nhất là chùa An Chiểu, nay thuộc thành phố Hưng Yên, 10 quan tiền, nơi nhiều nhất là chùa xã Cẩm Khê, huyện Tiên Lãng, trị giá 120 quan tiền cổ. Chùa Bà Đanh (tên chữ là Thiên Phúc tự) ở làng Trà Hương quê hương, bà cúng 1 mẫu 9 sào...

Giới sử học đánh giá cao công lao Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn trong công cuộc bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc.   

Huyền Trang

;
.
.
Bình luận
.
.
.
.
.