.

"Tam tuyệt thi" thời đầu kháng chiến chống Pháp

Thứ Bảy, 17/12/2016, 09:02 [GMT+7]
.

Nhân kỷ niệm 70 năm toàn quốc kháng chiến (1946-2016), để sống lại không khí hào hùng những ngày tháng oanh liệt đó, chúng ta hãy cùng thưởng thức, cảm nhận 3 bài thơ được gọi là "tam tuyệt thi" thời đầu kháng chiến chống Pháp, đó là: "Hải Phòng 19-11-1946" của Trần Huyền Trân, "Nhớ máu" của Trần Mai Ninh và "Đèo Cả" của Hữu Loan.

Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước giành độc lập, nền thơ nước ta không còn phải mượn cái áo của các trường phái thơ nước ngoài (tượng trưng, lãng mạn của Pháp, Cổ phong, Đường luật của Trung Quốc...) nữa, chúng ta có một nền thơ độc lập, nền thơ cách mạng, hiện đại, và nó cũng chia tay thi pháp Thơ mới, mặc dù hầu hết các nhà thơ thời này đều đã sống, sáng tác ở thời Thơ mới (còn gọi là thơ tiền chiến).

Thơ cách mạng rất thành công với các bài viết theo thể tự do. Có nhà nghiên cứu đã lý giải cho sự biến đổi này rất thuyết phục như sau: "Ở những giai kỳ lịch sử, khi tâm hồn toàn thể quần chúng bị xáo trộn dữ dội, thi ca - dự báo của ý thức và tư tưởng - lại lột xác đi tìm ngữ thức mới để bộc lộ.

Suốt bốn năm (1945-1949) cao trào cách mạng và kháng chiến sục sôi, hình thức thơ tiền chiến bể vụn như chiếc phễu thủy tinh hết dung chứa nổi khối lượng đường phèn rỏ chảy. Như con sông trong xanh lặng lờ bỗng hóa thác nguồn tuôn lũ lụt, dềnh lan hai bờ, dềnh ngập làng mạc ven sông. Ý, chữ, câu, cuồn cuộn tung thơ, chảy thành dòng cuồng nhiệt xôn xao… Thơ tự do ra đời" (trích tác phẩm phê bình văn học được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1996).

Tác giả tiêu biểu thời kỳ này phải kể đến ba nhà thơ kỳ tài là: Hữu Loan, Trần Huyền Trân và Trần Mai Ninh.

* Trần Mai Ninh: tên thật là Nguyễn Thường Khanh, sinh năm 1917 tại Thanh Hóa. Ông sớm giác ngộ cách mạng, tham gia giành chính quyền và hoạt động kháng chiến ở Nam Trung bộ. Năm 1947, ông bị chính quyền thực dân bắt và qua đời trong tù. Trần Mai Ninh có tác phẩm để đời là hai bài thơ "Nhớ máu" và "Tình sông núi". Ông được truy tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.

* Hữu Loan: tên thật là Nguyễn Hữu Loan (1916-2010), được gọi là nhà thơ chiến sỹ. Ông có một số tác phẩm nổi tiếng như "Màu tím hoa sim" và đặc biệt là "Đèo Cả".

* Trần Huyền Trân (1913-1989): tên thật là Trần Đình Kim, quê gốc ở huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, sinh ra và lớn lên tại khu Cống Trắng, phố Khâm Thiên, Hà Nội. Là một trong 45 nhà Thơ Mới được giới thiệu trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh - Hoài Chân, được truy tặng Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Tác phẩm nổi tiếng của ông là: "Độc hành ca", "Hải Phòng 19-11-1946".

Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc 3 bài thơ tiêu biểu nhất của ba nhà thơ trên viết về những năm tháng không thể nào quên ấy:

 

 

NHỚ MÁU

Trần Mai Ninh

 

Ơ cái gió Tuy Hoà...

Cái gió chuyên cần

Và phóng túng.

Gió đi ngang, đi dọc,

Gió trẻ lại - lưng chừng

Gió nghỉ,

Gió cười,

Gió reo lên lồng lộng.

 

Tôi đã thấy lòng tôi dậy

Rồi đây

Còn mấy bước tới Nha Trang

- A, gần lắm!

Ta gần máu,

Ta gần người,

Ta gần quyết liệt.

 

Ơi hỡi Nha Trang!

Cái đô thành vĩ đại

Biết bao người niệm đọc tên mi.

 

Và Khánh Hoà vĩ đại!

Mắt ta căng lên

Cả mặt

Cả người,

Cả hồn ta sát tới

Nhìn mi!

Ta có nhớ

Những con người

Đã bước vào bất tử!

Ơ, những người!

Đen như mực, đặc thành keo

Tròn một củ

Hay những người gầy sát lại

Mặt rẹt một đường gươm

Lạnh gáy,

Lòng bàn tay

Khắc ấn chuôi dao găm.

Chân bọc sắt,

Mắt khoét thủng đêm dày

 

Túi chứa cả Nha Trang... họ bước

Vương Gia Ngại... Cung Giũ Nguyên

Chút chít Hoàng Bá San... còn nữa!

 

Cả một đàn chó ghẻ

Sủa lau nhau

Và lần lượt theo nhau

Chết không ngáp!

 

Dao găm để gáy,

Súng màng tang

 

Ồng ộc xối đầy đường máu chó.

Chúng nó rú.

Cả trại giặc kinh hoàng.

Quy-lát khua lắc cắc

Giày đinh xôn xao

Còi và kèn...

Cả trại giặc bạt hồn, bạt vía...

Chạy lung tung

- Sớm mai xét và bắt

Thiết giáp cam nhông

Rầm rập nối đuôi nhau

Và đêm khuya: lại chết

Chồn Pháp, chó Việt gian

Ằng ặc máu

 

Mắt ta căng lên

Cả mặt

Cả người

Cả hồn ta sát tới

Biết bao người

Sống lẩn lút nhưng ngang tàng

Bên lưng giặc!

Vẫn tổ chức, vẫn tuyên truyền

Hoặc giao thông hay liên lạc

Rải giấy

Treo cờ

Hay gồng vai tiếp tế

Từ bình minh cho tới trăng tàn

Đúc bê tông bên mặt trận

Và thì thào cùng du kích đi lên...

Cả ngàn chiến sĩ

Cả ngàn con bạc, con vàng

Của Tổ quốc!

Sống... trong đáy âm thầm

Mà nắm chắc tối cao vinh dự

Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai

Vững tin tưởng nơi oai hùng

Và chiến thắng

Câu Việt Nam: dân tộc!

 

Cờ đã nâng cao

Màu đỏ máu

Với sao vàng tung rực rỡ!

Mặt hoàn cầu đã họp những tia xanh

Trán nhíu lại

Chú ý nhìn châu Á phía Đông Nam

 

Ta quyết thắng!

Việt Nam rồi đứng dậy

Sáng vô chừng

Rất tươi đẹp với Nha Trang và Nam Bộ

Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt

Máu chan hòa trên góc cạnh kim cương

Các anh hùng tay hạ súng trường

Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu

Họ cười vang rung lớp lớp tinh cầu!

 

 

Hải Phòng, 19-11-1946

Trần Huyền Trân

 

Nổ súng rồi!

Nổ súng rồi!

Hải Phòng cuồn cuộn dâng như biển

Nước mặn đồng chua thêm máu người

Còi ga rền rĩ

Xe liên kiểm hết hơi

Miệng La - mi ngọt bên tiếng súng (1)

Bao nhiêu bơ sữa reo cười

Mắt Hoàng Hữu Nam giời thu lồng lộng (2)

Nhìn ra khí bốc mù khơi

 

Ngoài kia

Dòng Thái Bình xuyên rừng leo núi

Oằn oại với chân người

Dòng Thái Bình xô ra biển rộng

Dòng Thái Bình vọt sóng

Đang tung lưới rộng nhà chài

Đang vục bàn tay lưu động

Vét phù sa cày luống ngô khoai

 

Dòng Thái Bình réo lên sức sống

Tiếng ngàn xưa phi ngựa thúc voi

Dòng Thái Bình điểm tô cuộc đời

Này đây:

Phu phen cực khổ

Ngủ với chuột

                        Ăn với ruồi

Cha gục xuống

đàn con bước nối

 Áo hở da

cơm tưới mồ hôi

Cánh tay thuyền thợ rèn đêm tối

Chí đúc hôm sau đỏ mặt trời

Này đây:

Chợ Con - Chợ Sắt

Nguồn sinh lực mới nuôi đời

Nguồn sinh lực mới chồi lên đất

Giữa mùa thu mới máu hồng tươi

Nhớ lại gót giày đinh Pháp Nhật

Tranh nhau xáo xác nô cười

Bếp lửa đợi chờ thoi thóp

Đời vứt nhau trong nước mắt rơi

Chồng lìa vợ giành hơi cháo loãng

Mẹ bồng con đem bỏ "chợ giời"

Địa ngục gông cùm của thê thảm ấy

Thực dân rắp mở cửa ngày mai

Ngày mai?

Khoanh tay?

Mai lại sống đời tối đen

 

Hải Phòng sừng sững đứng lên

Hải Phòng ghê ghớm

Hải Phòng Pháp Nhật che cờ trắng

Hải Phòng nay rợp cờ hồng

Hải Phòng chẳng bó tay đau đớn

Hải Phòng trấn cõi Biển Đông

Hải Phòng!

Nảy lửa trong Nhà hát Lớn

Mười ba quyết tử cười hơn hớn

Còn viên đạn cuối cùng.

 

Nhà hát rung…

Cong véo cầu Ca-rông

Ga An Dương bẹp dí

Máy rú gầm không khí

Bom rơi đầy đồng…

Đêm về

vườn trống

nhà không

Cây đổ hiện lên chiến sĩ

Gạch vụn hiện lên anh hùng

Cả quán Bà Mau, cả Cánh Gà, cả Hạ Lí

Cả những gái, Pháp kêu "đồ đĩ"

Cả những trai, Nhật gọi "lưu manh"

Cả những anh "bấu sấu, voi xanh"

Nửa đêm nay, dao bầu, gậy bẩy

Đi băm nát thời nô lệ ấy

Mình băng lên đại lộ Hồ Chí Minh

Biết bao anh hùng liệt sỹ vô danh!

 

Nổ súng rồi!

Nổ súng rồi!

Máu giặc bôi lên chữ hòa bình

Lên trang sách vỡ lòng em nhỏ

Lên bông hoa bông lúa

Tín ước giặc đưa vào ngọn lửa

Lửa! Lửa!

Lửa nghi ngút từ lòng tham vô độ

Tay đế quốc chủ băng chủ mỏ

Đốt qua nòng đại bác liên thanh

Lửa nghi ngút từ tiệc hoa nhảy múa

Từ làn môi cặp vú

Đốt qua lòng mê muội lính viễn chinh

Lửa! Lửa!

Lửa reo lửa thét

Đây Việt Nam lửa bảo vệ hòa bình

Từ hè phố giữ gìn xí nghiệp

Từ núi đồi canh gác lúa xanh

Lửa xuống cửa ga

Xe tăng giẫy chết.

Lửa vào Cát Bi

Máy bay tan tành!

Hải Phòng khu Bảy tay ôm lửa

Một mái nhà thiêu một đạo binh

 

Suốt ngày

Từng loạt liên thanh…

Máy bay đuổi quét gia đình tản cư

Nâng cao vòm trán Thủ đô

Cha già thấm mắt tâm tư sáng ngời

Hôm qua đàn cháu ra đời

Ngày mai đàn cháu hát cười tự do

Hôm qua đói rét ngục tù

Ngày mai tươi sáng ấm no đời đời

Hải Phòng cuồn cuộn dâng như biển

Giặc Pháp mang thêm tội giết người

Hải Phòng cuồn cuộn dâng như biển

Đứng dậy hôm nay ở lớp người.

 

(1) Ủy viên Ủy ban liên kiểm Việt - Pháp tại Việt Nam

(2) Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

 

 

ĐÈO CẢ

Hữu Loan

 

Núi cao vút

Mây trời Ai Lao

                      sầu

                           đại dương

Dặm về heo hút

Đá Bia mù sương

Bên quán Hồng Quân

                               người

                                        ngựa

                                               mỏi

Nhìn dốc ngồi than

                           thương ai

                                          lên đường

Chầy ngày

               lạc

                   giữa suối

Sau lưng

             suối vàng

                          xanh

                                  tuôn

Dưới khe

              bên suối độc

                                cheo leo

                                            chòi canh

                                                          ven rừng hoang

Những người

                   đi

                      Nam Tiến

Dừng lại đây

                  giữa

                         đèo núi quê hương

Tóc tai

          trùm

                 vai rộng

Không nhận ra

                     người làng

Rau khe

            cơm vắt

                        áo

                           pha màu

                                       sa trường

Ngày thâu

               vượn hót

Đêm canh

                gặp hùm

                             lang thang

Gian nan lòng không nhợt

Căm hờn trăm năm xa

Máu thiêng trôi dào dạt

Từ nguồn thiêng ông cha

 

Giặc

        từ trong

                    tràn tới

Giặc

         từ Vũng Rô

                          bắn qua

Đèo Cả

           vẫn

                giữ vững

Chân đèo

                máu giặc

                             mấy lần

                                         nắng khô

Sau mỗi trận thắng

Ngồi bên suối đánh cờ

Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt

Người vá áo thiếu kim mài sắt

Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu

 

Suối mang

                bóng người

Trôi những về đâu....

Khánh Toàn

;
.
.
Bình luận
.
.
.
.
.