.

Trường Thơ Hải Phòng: "Hải Phòng đã dựng nên thơ"

Thứ Bảy, 18/02/2017, 07:57 [GMT+7]
.

 

...
...

Cuốn sách mang tên “Trường Thơ Hải Phòng” do đồng tác giả: nhà thơ Nguyễn Thụy Kha và họa sỹ Lê Thiết Cương biên soạn, tổng kết lại một dòng chảy đặc biệt trong thơ ca Việt Nam của các tác giả người Hải Phòng và các tỉnh khác, nhưng viết về Hải Phòng với chất mạnh mẽ và hào sảng. Hồn cốt cuốn sách có thể gói gọn vào câu nói Hải Phòng đã dựng nên thơ của cố nhạc sỹ Văn Cao. Ở đó có một Hải Phòng hiên ngang và mạnh mẽ, có những con người đất Cảng cần lao, cháy hết mình với nghệ thuật. Hẳn, mảnh đất mặn mòi vùng cửa biển đã tạo nên khí chất riêng cho con người nơi đây. Đi vào thi ca, cái khí chất ấy đã tạo một vẻ đẹp dữ dội song cũng rất thơ và giàu sức lan tỏa.

1. Khước từ mộng mơ để dữ dội như cuộc sống. Gần 70 xuân, nhà thơ, nhà báo, nhạc sỹ Nguyễn Thụy Kha luôn chất chứa một tình yêu cháy bỏng với thành phố quê hương. “Ba điều tôi đã trả nợ được Hải Phòng thì quan trọng là cuốn Trường Thơ Hải Phòng. Trong quá trình nghiên cứu về thơ và học hỏi các bậc đàn anh, tôi thấy có một dòng chảy hết sức đặc biệt của thi ca Việt Nam.

 “Nó” khước từ sự mơ mộng của tiền chiến để đưa sự thật “trần trụi” vào thơ. Đó là một thứ thơ sát gần với sự thật, song không phải là sự thật. Có thể “nó” đã được manh nha trong các nhà thơ Hải Phòng từ rất lâu, nhưng chỉ đến khi chiến tranh, lấy mốc từ ngày 4-11-1946, nổ ra tại Hải Phòng, thì thơ cũng bắt đầu bật lên cái giọng điệu đó...”.

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha nói thêm, người khởi xướng không ở Hải Phòng mà là nhà thơ Trần Huyền Trân. Tác giả của “Độc hành ca” vốn sẵn chất ngang tàng, đến đây và đã cho ra đời những vần thơ phóng khoáng, mạnh mẽ: “Hải Phòng sừng sững đứng lên/ Hải Phòng ghê gớm/ Hải Phòng Pháp, Nhật che cờ trắng/ Hải Phòng nay rợp cờ hồng/ Hải Phòng chẳng bó tay đau đớn/ Hải Phòng trấn cõi Biển Đông”. Và, cái giọng điệu thơ “trước đây chưa từng có” (nhà thơ Nguyễn Thụy Kha) của Trần Huyền Trân: “Cong véo cầu Ca rông/ Ga An Dương bẹp dí” đã làm nên một “cuộc đổi gió” (nhà phê bình Hoài Thanh) trong thi ca Việt Nam.

Đó là sự ra đời của trường phái thơ Hải Phòng. “Nó đã khiến Lan Sơn, Lê Đại Thanh nhanh chóng rũ bỏ nhịp điệu cũ. “Nó” đã để cho Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng ngẫm nghĩ suốt những năm trường kỳ kháng chiến, để cuối cùng, sau giải phóng Hải Phòng (13-5-1955), trường ca “Những người trên cửa biển” của Văn Cao ra đời gần như một định hướng riêng về “mỹ học thơ” cho những người làm thơ ngấm chất Hải Phòng” - nhà thơ Nguyễn Thụy Kha tiếp tục nhận định.

2. Khí chất Hải Phòng “bùng lửa” trong thơ. Xuyên suốt hành trình thơ từ ngày Hải Phòng kháng chiến năm 1946 đến nay là những tên tuổi như: Nguyên Hồng, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Lan Sơn, Lê Đại Thanh…; tiếp đến là Hoàng Hưng, Thanh Tùng, Đào Cảng; rồi những: Thi Hoàng, Đào Trọng Khánh và Nguyễn Thụy Kha sau này… Trường Thơ Hải Phòng đã tạc nên một Hải Phòng thắp lửa trong thi ca. Ấy là một “Hải Phòng sừng sững đứng lên/ Hải Phòng ghê gớm” (Hải Phòng, 19-11-1946, Trần Huyền Trân); là nơi “Nhà ta ở đó tổ êm ấm/ Quân thù chiếm giữ, bao đau lòng/ Dòng sông thắt lại niềm căm giận/ Dẫy núi trào lên nỗi nhớ mong” (Trở lại Hải Phòng của Lan Sơn). Là những khoảnh khắc bi hùng: “Hải Phòng ơi!/ Thịt da như đồng hun chão quấn/ Đi trên sắt gai gội trên bụi lửa, tắm mặn đại dương/ Trên đất nước cha ông đổ mồ hôi cùng máu”.

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha
Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha

Rồi “Những viên đạn của Hải Phòng/ đã bắn/ Để giữ lấy trời trong” (Kính chào những viên đạn của Hải Phòng cửa biển quê hương - Nguyên Hồng); nơi “Bước gần ta chút nữa thêm gần/ Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tủy” (Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc - Văn Cao).

Ở Trường Thơ Hải Phòng, 23 tác giả - 23 “riêng” đã làm nên một “chung” - một giọng điệu riêng, mặn mòi, mạnh mẽ, phóng khoáng, rất Hải Phòng mà lại rất thơ: “Trên dòng Tam Bạc/ Những con thuyền dan díu vào nhau/ Cánh buồm nâu/ Cánh buồm nâu/ Làn khói lam xanh/ Như rồng lượn, rồng chầu” (Chiều Tam Bạc - Tường Vân); “Cứ đêm về em lại đem tôi ra bắn/ Cuộc hành trình này thầm lặng” (Đêm về - Tường Vân); “Từ thẳm sâu một âm thanh rất căng/ Vọt lên, thắt ngang bầu nắng” (Nghe tiếng đàn bầu trong xe xích - Hoàng Hưng), “Và mùa hạ gió xổng chuồng giãi bưỡi/ Và mùa thu hoa cúc nở tơi bời...” (Dấu vết - Thi Hoàng), “Cỏ không chê những thi sĩ tâm thần/ Chỉ sợ những thi sĩ ba xu đòi mua tất cả…/ Thành phố tin người từng trao chìa khóa cho thằng ăn cắp/ Ôi thành phố của tôi thật là cực nhọc” (Trường ca “Gọi nhau qua vách núi” - Thi Hoàng); “Có cái gì đằng sau cơn dông/ Đằng sau lửa, đá/ Sau ánh mắt buồn mệt lả/ Đang nhìn vào tim anh” (Mưa đền cây - Trịnh Hoài Giang)…

3. Sự cảm nhận thơ bằng họa. Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha chia sẻ: “Sức của tôi có hạn, anh Cương cũng có hạn. Hai anh em phải dốc tâm, dốc sức cùng nhau làm nên cuốn sách này, không chỉ có thơ mà còn có họa. Đó là một “cách đọc thơ” khác - đọc bằng minh họa. Song như các họa sỹ tham gia vẽ minh họa thì không nên chỉ hình dung bằng cụm từ “tranh minh họa” thông thường, mà nên hiểu đó là một cách “đọc” thơ của người họa sỹ rồi truyền tải lại những gì mà anh ta cảm nhận được qua tranh”.

Họa sỹ Đặng Tiến
Họa sỹ Đặng Tiến

Sách dày 348 trang, do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Để minh họa tác phẩm thơ của 23 nhà thơ, 16 họa sĩ đã thể hiện trong đó tới 40 bức tranh minh họa. Có những người được chọn nhiều tranh như họa sỹ Quốc Thái, 5 tác phẩm. Có người được chọn minh họa tranh cho tác phẩm “đinh chốt” gắn với những tên tuổi lớn: Văn Cao, Lê Đại Thanh như họa sỹ Đặng Tiến.

Lại cũng có cả những họa sỹ trẻ như: Quốc Thắng, Bình Nhi... họ “thú thật” rằng đã khá… run khi nhận trọng trách song tất cả đều vẽ bằng niềm nhiệt huyết với tình yêu chân thành với thành phố Cảng. Là người minh họa báo lâu năm, họa sỹ Đặng Tiến chia sẻ: “Tôi thường minh họa văn xuôi, nhất là truyện ngắn, nội dung cụ thể, có cốt truyện. Thơ trừu tượng lắm, mình phải cảm nhận được tứ thơ trong đó. Có khi không vẽ cái gì cụ thể trong bài thơ, mà lại là một tác phẩm độc lập mang hơi hướng, mang cái hồn của bài thơ ấy. Cảm nhận về thơ và cảm nhận về mỹ thuật bổ sung cho nhau, đem đến cho độc giả một sự mới lạ”…

Hải Hậu

;
.
.
Bình luận
.
.
.
.
.